Chat với MEDILAB
Xem thêm thông tin tại  GOOGLE + Youtube Facebook Twitter INTAGRAM

Chuyên mục

GIUN ĐŨA CHÓ MÈO VÀ NHỮNG ĐIỀU BẠN CẦN BIẾT

25-11-2017 - Lượt xem: 1152

Bệnh giun đũa chó mèo (Toxocariasis)

1. Tác nhân gây bệnh

Tác nhân gây bệnh là Toxocara canis hay Toxocara cati, một loài giun tròn thường được gọi là giun đũa của chó, mèo.Các giun này sẽ đẻ trứng,trứng theo phân ra ngoài môi trường và sau 1-2 tuần lễ các trứng này sẽ hoá phôi.Đây là giai đoạn có thể gây bệnh cho người nếu nuốt phải trứng. Trẻ em là đối tượng dễ nhiễm bệnh nhất do thói quen đùa nghịch với đất cát, mà đất cát lại là nơi phát tán trứng giun do đặc tính phóng uế bừa bãi của chó, mèo. Sau khi nuốt trứng vào cơ thể, các ấu trùng giun sẽ được phóng thích, đi xuyên qua thành ruột và theo đường máu di chuyển đến gan, phổi, hệ thần kinh trung ương. Tại đây, các ấu trùng có thể sống sót trong cơ thể người trong nhiều tháng và sau đó bị phản ứng viêm của cơ thể tiêu diệt các ấu trùng di chuyển hoặc khiến chúng ngưng phát triển, nhưng chỉ sau khi các ấu trùng này đã gây tổn thương tại các mô.

Một đoạn ruột non của chó với T. canis trưởng thành.
Giun đực có đuôi cong, giun cái có đuôi thẳng
2. Dịch tễ

Do đặc điểm chó, mèo là những động vật rất gần gũi với người, nên bệnh phân bố khắp thế giới và nhiều tác giả cho rằng đây là bệnh động vật ký sinh phổ biến nhất ở vùng ôn đới [10,15]. Một số khảo sát trên thế giới cho thấy:

+ Huyết thanh người tại một số nước phương Tây có tỷ lệ dương tính với Toxocara spp. từ 2-5% ở vùng thành thị đến 14,2-37% ở vùng nông thôn. Ở vùng nhiệt đới, tỷ lệ huyết thanh dương tính là 63,2% ở Bali, 86% ở đảo Saint-Lucia, 92,8% ở đảo La Réunion [10].

+ Huyết thanh Toxocara dương tính tại Sri Lanka là 43% ở vùng nông thôn (Iddawela et al., 2003) và 20% ở vùng thành thị (Fernando et al., 2007) [5].

+ Năm 1989, trong 6100 mẫu máu tại Trung tâm Truyền máu La Chaud-de-Fonds (Thụy Sĩ) có 601 (9,9%) trường hợp dương tính với Toxocara spp., và trong 501 mẫu máu trẻ em tại hai bệnh viện La Chaud-de-Fonds và Delémont (Thụy Sĩ) có 18 (3,6%) trường hợp dương tính [7].

+ Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống bệnh Hoa Kỳ (CDC) đã ghi nhận có 68 bệnh nhân mắc mới bệnh giun đũa chó, mèo thể di chuyển ở mắt trong khoảng thời gian tháng 9/2009 đến tháng 9/2010 tại Hoa Kỳ. Trước đó một điều tra cắt ngang tại Hoa Kỳ trong các năm từ 1988 đến 1994 với trên 20000 người lớn hơn 6 tuổi cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính là 13,9% (Peter J. Hotez, 2009).

Tình hình bệnh tại Việt Nam:

Bệnh giun đũa chó, mèo tại Việt Nam chưa được nghiên cứu nhiều, một phần vì các triệu chứng lâm sàng không đặc hiệu, một phần vì việc xét nghiệm phân không áp dụng được trong bệnh này vì giun không phát triển được đến giai đoạn trưởng thành và đẻ trứng trong ruột của người. Những năm gần đây đã có nhiều điều tra về huyết thanh học, chủ yếu với kỹ thuật ELISA nhưng chỉ giới hạn ở một số địa điểm cụ thể và số mẫu chưa nhiều nên các số liệu khó nói lên tình hình nhiễm chung trong cả nước.

+ Một điều tra khảo sát tình hình nhiễm ấu trùng giun đũa chó ở xã Thạnh Tân, thị xã Tây Ninh năm 2009 cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính với Toxocara canis là 20,6%[16].

+ Theo dõi tình hình nhiễm Toxocara canis trong số cán bộ chiến sĩ công an nghi ngờ nhiễm ký sinh trùng đến khám và điều trị tại bệnh viện 30-4 TP. HCM,cho các số liệu sau: năm 2011 huyết thanh dương tính với Toxocara sp. là 40/861 (4,6%) trường hợp, năm 2012 tỷ lệ này là 130/1628 (8%) trường hợp [20].

Tuy chưa có số liệu chính xác về tình hình bệnh, nhưng cơ hội lây nhiễm trứng giun đũa chó, mèo vào người tại Việt Nam là rất cao, dẫn đến tình hình bệnh không phải là thấp doviệc nuôi chó, mèo trong nhà là phổ biến (để giữ nhà, làm thú cảnh, nguồn thực phẩm…). Một khảo sát tình hình nhiễm giun tròn đường tiêu hóa trong177 con chótại một số địa phương tỉnh Thanh Hóa cho thấy qua mổ khám tỷ lệ chó nhiễm Toxocara canis chiếm từ 10% - 25% và qua xét nghiệm phân là từ 22,8% - 40% [18]. Ngoài ra một khảo sát trên 90 mẫu rau sống bán tại các siêu thị trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh, số mẫu rau nhiễm trứng giun đũa chó, mèo chiếm đến 67,7% [17].

Trứng T. canis chưa hoá phôi

  

Trứng T. canis đã hoá phôi

 

3. Lâm sàng

Ở ký chủ vĩnh viễn (chó hay mèo nhà), giun trưởng thành sống trong lòng ruột non. Người mắc bệnh khi nuốt phải trứng giun đũa chó, mèo đã hoá phôi. Nhưng các ấu trùng từ trứng nở ra sẽ không phát triển được đến giai đoạn trưởng thành và sẽ chu du trong cơ thể người trong vài tháng đến nhiều năm. Các ấu trùng này sẽ gây tổn thương tại những nơi mà chúng đến, làm nên bệnh giun đũa chó, mèo ở người.

Mức độ tổn thương của cơ thể cùng với các triệu chứng tùy thuộc vào số lượng ấu trùng cũng như cơ quan mà chúng xâm lấn: gan, phổi, hệ thần kinh trung ương, mắt… Các thể lâm sàng của bệnh giun đũa chó, mèo được mô tả như sau [4]:

  • Thể ấu trùng di chuyển nội tạng (visceral larva migrans – VLM), chủ yếu gặp ở trẻ < 5 tuổi với các triệu chứng:sốt, gan to và bị hoại tử, lách to, triệu chứng hô hấp giống như hen suyễn, bạch cầu ái toan tăng (tỷ lệ có thể đến 70%), các globulin miễn dịch IgM, IgG và IgE trong máu tăng. Ngoài ra có thể gặp viêm cơ tim, viêm thận, hệ thần kinh trung ương bị thương tổn với các triệu chứng co giật, triệu chứng tâm thần kinh hay bệnh lý ở não.
  • Thể ấu trùng di chuyển ở mắt (ocular larva migrans – OLM), gặp ở trẻ từ 5 đến 10 tuổi với triệu chứng giảm thị lực một bên mắt với đôi khi bị lé mắt. Mức độ suy giảm thị lực tuỳ thuộc vào vùng bị thương tổn (võng mạc, điểm vàng), có thể dẫn đến mù loà.

Ngoài hai thể lâm sàng chính nói trên, hiện nay nhiều tác giả còn mô tả những thể khác, hoặc tách ra từ thể VLM hoặc là những thể riêng biệt với những triệu chứng mơ hồ hơn như [6,11]:

  • Thể “che đậy” (covert toxocariasis), được mô tả ở trẻ em với các đặc điểm: hiệu giá kháng thể Toxocara qua kỹ thuật ELISA vừa phải (≥ 1/50), số lượng bạch cầu ái toan bình thường hay tăng nhẹ, đau bụng, nhức đầu, ho.
  • Thể “thông thường” (common toxocariasis), được các tác giả người Pháp mô tả ở người lớn với các triệu chứng: mệt mỏi, ngứa, nổi ban, thở khó và đau bụng. Có lẽ thể “che đậy” và thể “thông thường” chỉ là một, chỉ khác nhau ở đối tượng bị bệnh là trẻ em hay người lớn.
  • Thể “thần kinh” (neurotoxocarosis), gây bệnh ở hệ thần kinh trung ương (sa sút trí tuệ, viêm não-màng não, viêm tuỷ, viêm mạch máu não, động kinh hay viêm dây thần kinh thị giác) hoặc ở thần kinh ngoại biên (viêm rễ thần kinh, gây tổn thương các dây thần kinh sọ hay thần kinh cơ-xương).

Một nghiên cứu năm 2012 của Trung tâm Khám bệnh chuyên ngành Viện Sốt rét-KST-CT TP. Hồ Chí Minh trên 103 bệnh nhân có test ELISA Toxocara dương tính cho thấy các triệu chứng sau [19]:

TT

Triệu chứng

Tần suất

Tỷ lệ %

1

ELISA (+)

103

100

2

Ngứa

97

94,2

3

Mề đay

97

94,2

4

Đau đầu

76

73,8

5

Rối loạn tiêu hóa

34

33,0

6

Bạch cầu ái toan tăng

21

20,4

7

Ăn kém

15

5,0

8

Đaubụng

14

4,7

4. Chẩn đoán

Chẩn đoán bệnh giun đũa chó, mèo là một việc khó vì [1,4,9,11,15]:

  • Triệu chứng trong các thể lâm sàng của bệnh giun đũa chó, mèo không đặc hiệu cho bệnh,
  • Ấu trùng có thể phân tán rộng trong cơ thể và không phải lúc nào làm sinh thiết cũng phát hiện được ấu trùng,
  • Huyết thanh chẩn đoán ELISA sử dụng kháng nguyên ngoại tiết TES (Toxocara excretory-secretory antigen) có thể dương tính chéo với các trường hợp nhiễm giun, sán khác (giun đũa, giun móc, giun lươn, giun chỉ hệ bạch huyết, sán lá gan lớn, sán dây). Do đó để khẳng định thì phải làm Western-Blot là một kỹ thuật có tính đặc hiệu cao hơn.
  • Ngoài ra nhiều nơi sản xuất kit ELISA với những hiệu giá kháng thể hay mật độ quang (OD) khác nhau về ngưỡng dương tính, nên khó so sánh hay theo dõi diễn tiến bệnh.
  • Sự hiện diện của kháng thể chống Toxocara cũng không nói lên tình trạng đang mắc hay đã mắc bệnh vì các kháng thể chống Toxocara có thể tồn tại đến hơn 2,8 năm với kỹ thuật ELISA và đến hơn 5 năm với kỹ thuật Western-Blot.
  • Số lượng bạch cầu ái toan có thể bình thường hoặc có tăng nhưng với mức độ rất thay đổi.

Chính vì những khó khăn trên nên một số tác giả đã tìm cách định nghĩa ca bệnh giun đũa chó, mèo. Năm 1979, Glickman và cs. đề xuất các tiêu chuẩn sau:

  1. Số lượng bạch cầu > 10.000/µL máu,
  2. Bạch cầu ái toan > 10% tổng số bạch cầu,
  3. Hiệu giá anti-A isohemagglutinin >400,
  4. Hiệu giá anti-B isohemagglutinin > 200,
  5. Nồng độ IgG và IgM tăng,
  6. Gan to

Nếu hội đủ 3 tiêu chuẩn trên trở lên thì là mắc bệnh giun đũa chó, mèo.

Năm 2001, Pawlowski lại đề xuất 5 chỉ thị (markers) cho bệnh giun đũa chó, mèo:

  1. Đặc điểm của bệnh nhân và bệnh sử,
  2. Các dấu hiệu và triệu chứng lâm sàng,
  3. Chẩn đoán huyết thanh dương tính,
  4. Tăng bạch cầu ái toan,
  5. Nồng độ IgE tăng.
Hình ảnh giun đũa chó chụp tại Medilab

 

5. Điều trị

Phác đồ điều trị bệnh giun đũa chó, mèo hiện nay chưa thống nhất về thuốc tối ưu, cũng như liều lượng và thời gian điều trị. Nhìn chung albendazole được nhiều tác giả khuyến cáo do tính an toàn, có sẵn và ít phản ứng bất lợi. Thời gian dùng albendazole cũng rất thay đổi tuỳ theo tác giả.

+ S. D. Fernando (2011) điều trị cho trẻ em 4-13 tuổi tại Sri Lanka với albendazole liều 50 mg/kg/ngày chia làm 2 lần/ngày trong 3 ngày, và với DEC 6 mg/kg/ngày chia làm 3 lần/ngày trong 21 ngày. Đến tháng thứ 3 sau điều trị, hiệu giá huyết thanh Toxocara và số lượng bạch cầu ái toan giảm như nhau ở cả 2 phác đồ. Tác giả khuyến nghị dùng albendazole liều như trên để điều trị bệnh giun đũa chó, mèo do có hiệu quả và thời gian dùng thuốc ngắn [5].

+ Theo Magnaval (2001), thiabendazole liều 25-50 mg/kg/ngày trong 3-7 ngày có hiệu quả trong 50-53% trường hợp bệnh, mebendazole liều 20-25 mg/kg/ngày trong 21 ngày có hiệu quả trong 70% trường hợp bệnh và albendazole liều 10 mg/kg/ngày trong 5 ngày có hiệu quả trong 47% trường hợp bệnh. Tuy diethylcarbamazine (DEC) liều 3-4 mg/kg/ngày trong 21 ngày (khởi đầu với liều 25 mg/ngày và tăng dần) có hiệu quả đến 70% trường hợp bệnh nhưng có đến 28% bệnh nhân bị phản ứng bất lợi và 10% có phản ứng ngứa, nổi mề đay. Ivermectin không được khuyên dùng vì hiệu quả kém. Đồng thời tác giả cũng khuyến cáo rằng những bệnh nhân nào không có triệu chứng lâm sàng nhưng có tăng bạch cầu ái toan kéo dài cũng như những bệnh nhân nào có thể lâm sàng “che đậy” (covert toxocariasis) mà không có tăng bạch cầu ái toan thì không cần phải được điều trị vì bệnh sẽ tự khỏi [10].

+ Đối với thể ấu trùng di chuyển ở mắt (OLM) phải dùng corticoid (0,5-1 mg prednisone/kg/ngày) để chống hiện tượng viêm. Ngoài ra có thể dùng thiabendazole 25 mg/kg x 2 lần/ngày trong 5 ngày (liều tối đa trong ngày 3 g), albendazole 800 mg, ngày 2 lần trong 6 ngày, hoặc mebendazole 100-200 mg, ngày 2 lần trong 5 ngày. Nếu võng mạc bị bong thì phải phẫu thuật để can thiệp [3].

+ Despommier (2003) khuyến cáo sử dụng albendazole liều 400 mg, ngày 2 lần và dùng trong 5 ngày để điều trị bệnh giun đũa chó, mèo [4].

+ Carvalho (2011), cũng như Turrientes (2011) đề nghị dùng albendazole 15 mg/kg/ngày trong 5 ngày để điều trị, ngoại trừ thể bệnh không có triệu chứng thì không cần phải điều trị [1,14].

+ Magnaval (2006) đề xuất các phác đồ sau [9]:

Thể bệnh

Thuốc chọn lựa

Liều đề nghị

Ấu trùng di chuyển nội tạng

Diethylcarbamazine (DEC)

3-4 mg/kg/ngày x 21 ngày

Thể “thông thường” /

Thể “che đậy”

Diethylcarbamazine (DEC)

Như trên

Mebendazole

25 mg/kg/ ngày x 21 ngày

Albendazole

10-13 mg/kg/ngày x 15 ngày

Ấu trùng di chuyển ở mắt

Corticoid (prednisone)

1 mg/kg/ngày x 1 tháng

Diethylcarbamazine (DEC)

Như trên

Albendazole

400 mg (trẻ em)

800 mg (người lớn) /ngày x 10-14 ngày

+ The Medical Letter on Drugs and Therapeutics[12], Trung tâm Kiểm soát và Phòng chống bệnh Hoa Kỳ (CDC, 2010) [2] cũng như Kappagoda (2011) [8] khuyến cáo sử dụng albendazole và mebendazole để điều trị bệnh giun đũa chó, mèo thể ấu trùng di chuyển nội tạng với các liều lượng như sau:

  • Albendazole 400 mg x 2 lần/ngày, uống trong 5 ngày
  • Mebendazole 100-200 mg x 2 lần/ngày, uống trong 5 ngày

Đồng thời có thể kết hợp với corticoid để chống hiện tượng viêm.

Albendazole: cơ chế tác dụng và các phản ứng bất lợi

Albendazole, thuộc nhóm benzimidazole, ức chế sự polyme-hoá tubulin của ký sinh trùng để tạo ra các microtubule, dẫn đến ký sinh trùng bị rối loạn hấp thu glucose. Khi đó ký sinh trùng sẽ không tạo ra được năng lượng, sẽ bị bất động và chết. Ngoài tác dụng lên ký sinh trùng trưởng thành, thuốc còn có tác dụng trên trứng và ấu trùng.

Albendazole đã được sử dụng rộng rãi cho hàng trăm triệu người trong hơn 20 năm để điều trị các bệnh giun, sán ở người. Với liều thường dùng là liều duy nhất trong ngày (trẻ em > 2 tuổi và người lớn liều như nhau) hoặc trong 2-3 ngày, ít ghi nhận các phản ứng bất lợi. Nhưng khi dùng dài ngày, albendazole có thể có những phản ứng bất lợi như: đau bụng, rụng tóc hồi phục lại được, tăng men gan, giảm bạch cầu, nổi ban ngoài da, độc cho thận 

Giun đũa chó di chuyển lên mắt người

6. Phòng bệnh

  • Hàng tuần dọn dẹp sạch sẽ nơi chó, mèo nằm.
  • Phân chó, mèo phải được chôn lấp hay bỏ vào túi và vứt bỏ vào thùng rác.
  • Không cho trẻ chơi đùa nơi có chó, mèo thải phân.
  • Rửa tay với xà phòng sau khi chơi đùa với chó, mèo, sau khi nghịch đất cát và trước khi ăn uống.
  • Định kỳ tẩy giun cho chó, mèo.
Gói giun sán thường gặp tại Medilab

     

Tin liên quan

  • 8 Cách hạ sốt cho trẻ nhỏ an toàn và nhanh chóng

    8 Cách hạ sốt cho trẻ nhỏ an toàn và nhanh chóng

    Đăng lúc: 22-10-2020

    Sốt là triệu chứng rất thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Song đôi khi con sốt cao lại khiến bạn lo lắng, bối rối không biết làm gì khi bé sốt cao. Hãy tìm hiểu những cách hạ sốt cho trẻ tại nhà để giúp con yêu mau hết sốt.

  • TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIÊM LOÉT DẠ DÀY-TÁ TRÀNG NGƯỜI BỆNH CẦN BIẾT

    TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIÊM LOÉT DẠ DÀY-TÁ TRÀNG NGƯỜI BỆNH CẦN BIẾT

    Đăng lúc: 02-10-2020

    Bệnh viêm loét dạ dày – tá tràng là bệnh thường gặp, xảy ra do tổn thương trên niêm mạc dạ dày hoặc tá tràng, gây ra các triệu chứng đường tiêu hóa trên như đau bụng, buồn nôn... Bệnh có thể chữa trị được hoàn toàn, nhưng nếu bệnh kéo dài có thể dẫn đến các biến chứng nặng nề như: xuất huyết tiêu hóa, thủng dạ dày – tá tràng, hẹp môn vị

  • UNG THƯ VÚ Ở BỆNH NHÂN VỊ THÀNH NIÊN

    UNG THƯ VÚ Ở BỆNH NHÂN VỊ THÀNH NIÊN

    Đăng lúc: 21-09-2020

    Ung thư vú là một trong 10 bệnh ung thư thường gặp nhất ở phụ nữ Việt Nam. Độ tuổi mắc bệnh ung thư vú đang có xu hướng trẻ hóa, có những bệnh nhân ung thư vú ở lứa tuổi thanh thiếu niên với độ tuổi trung bình chỉ khoảng 30 tuổi.

  • BỆNH TRẺ EM THƯỜNG GẶP VÀO MÙA  MƯA

    BỆNH TRẺ EM THƯỜNG GẶP VÀO MÙA MƯA

    Đăng lúc: 09-09-2020

    Sự thay đổi khí hậu, mùa mưa đã bắt đầu, khí hậu ẩm thấp tạo điều kiện cho siêu vi, vi khuẩn, nấm,… phát triển ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người. Đặc biệt với hệ miễn dịch kém ở trẻ nhỏ rất dễ mắc bệnh lý về đường hô hấp như viêm mũi dị ứng, hen suyễn,…

  • NGĂN NGỪA BỆNH GOUT

    NGĂN NGỪA BỆNH GOUT

    Đăng lúc: 28-08-2020

    Bệnh gout thực sự là nỗi ám ảnh của xã hội hiện đại. Những ai bị gout đều cần phải có kiến thức để học cách sống chung với căn bệnh này.

  • DẤU HIỆU BẠN ĐANG MẮC BỆNH VIÊM CỔ TỬ CUNG

    DẤU HIỆU BẠN ĐANG MẮC BỆNH VIÊM CỔ TỬ CUNG

    Đăng lúc: 25-08-2020

    Viêm cổ tử cung là một trong những bệnh lý phụ khoa thường gặp. Tại Việt Nam, có đến 33% phụ nữ mắc bênh này, trong số đó có đến 40% đã bị biến chứng nặng chuyển thành viêm loét cổ tử cung dễ dẫn đến nguy cơ ung thư cổ tử cung.

Chuyên đề

Chuyên đề

Cảm nhận

  • PHÒNG BỆNH hơn CHỮA BỆNH

    PHÒNG BỆNH hơn CHỮA BỆNH

    Tiền có thể mua được RẤT NHIỀU THỨ nhưng đôi khi không mua được SỨC KHỎE của bạn . MEDILAB được thành lập nhằm đáp ứng NHU CẦU thiết yếu cho bà con gần xa VỚI MỤC ĐÍCH " kiểm tra sức khỏe định kỳ . Vì theo quan niệm của chúng ta " Phòng bệnh hơn Chữa bệnh " , " Sức khỏe quý hơn vàng " . Cùng LẮNG NGHE những KHÁCH HÀNG thân thiết tại MEDILAB !

  • CÂU CHUYỆN CÔ HOA ( H. PHÚ GIÁO )

    CÂU CHUYỆN CÔ HOA ( H. PHÚ GIÁO )

    Cô HOA nhà ở tận Huyện Phú Giáo , trước giờ cô rất ít đi khám bệnh . Nói đến Bệnh Viện hay Phòng Khám là cô phản ứng ngay : " Khám làm chi có bệnh đâu mà , khám ra bệnh lo thêm " Hay là vào bệnh viện ĐÔNG LẮM , không bệnh về lại bệnh thêm . Vậy mà giờ đây ĐỊNH KỲ " 3 Tháng " Cô HOA đi kiểm tra SỨC KHỎE một lần

  • ĐẾN TẬN NHÀ LẤY MÁU & TRẢ KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM

    ĐẾN TẬN NHÀ LẤY MÁU & TRẢ KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM

    Do đặt thù công việc của tôi trông nôm cửa hàng , nên đi đâu là phải đóng cửa . Được biết tại MEDILAB có dịch vụ " LẤY MÁU & TRẢ KẾT QUẢ XÉT NGHIỆM TẬN NHÀ "

  • Khách hàng xét nghiệm ở H. DẦU TIẾNG

    Khách hàng xét nghiệm ở H. DẦU TIẾNG

    Trước giờ muốn XÉT NGHIỆM TỔNG QUÁT là tôi phải xuống SÀI GÒN , mà phải đi từ 3h sáng , đến nơi còn phải BÓC SỐ , chờ đợi lâu . Sau khi được người quen giới thiệu TÔI đến trung tâm Xét Nghiệm Y Khoa MEDILAB tại Thủ Dầu Một , Xét nghiệm TỔNG QUÁT : không phải đi xa , không mất thời gian chờ đợi , chi phí rất hợp lý

Đặt lịch hẹn xét nghiêm
(Lấy máu tại nhà)

back-to-top.png